Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, thủ tục phá sản được xem là sự lựa chọn cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ các quy định pháp lý cũng như những vướng mắc thực tiễn của quy trình này. Mặc dù Luật Phá sản đã được ban hành vào năm 2004 và sửa đổi vào năm 2013, nhưng số lượng đơn yêu cầu phá sản được thụ lý vẫn còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, các vấn đề như hành vi gian lận hay tẩu tán tài sản khi doanh nghiệp nộp đơn phá sản cũng đang được chỉ ra. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích chi tiết các thông tin cơ bản về thủ tục phá sản tại Việt Nam, khung pháp lý, dữ liệu thống kê mới nhất, cùng những vướng mắc thực tiễn mà doanh nghiệp đang phải đối mặt.
|
|
01 - Ai là người có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản? |
Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, những chủ thể sau đây có quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
Định nghĩa về mất khả năng thanh toán:
Mất khả năng thanh toán là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Người có quyền và nghĩa vụ nộp đơn:
1. Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần
· Khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
2. Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
· Khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
3. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
· Người đại diện chịu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.
4. Người quản lý điều hành doanh nghiệp
· Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên/Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn.
5. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
· Sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng.
· Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông cũng có quyền nộp đơn trong trường hợp mất khả năng thanh toán nếu Điều lệ công ty có quy định.
Lưu ý thực tiễn:
Thủ tục phá sản là công cụ để giải quyết chính thức các khó khăn về tài chính của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ quy trình pháp lý và thực thi đúng quyền của người nộp đơn sẽ đảm bảo tính minh bạch và công bằng của thủ tục.
|
|
02 - Trình tự thủ tục phá sản/ Những điểm cần lưu ý khi nộp đơn yêu cầu phá sản |

Khi doanh nghiệp tự mình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, để chứng minh tình trạng mất khả năng thanh toán, cần nộp kèm theo các tài liệu, chứng cứ sau:
Hồ sơ, tài liệu cần thiết:
1. Báo cáo tài chính của 03 năm gần nhất
· Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì nộp báo cáo tài chính của toàn bộ thời gian hoạt động.
2. Bản giải trình nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
· Giải trình chi tiết nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
· Báo cáo kết quả thực hiện các biện pháp khôi phục để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được.
3. Bảng kê chi tiết tài sản và địa điểm có tài sản
· Bảng kê chi tiết toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài sản đó.
4. Danh sách chủ nợ và danh sách người mắc nợ
· Danh sách ghi rõ họ tên, địa chỉ, số tiền nợ, có bảo đảm hay không có bảo đảm (không có bảo đảm, có bảo đảm một phần v.v.) của các chủ nợ, người mắc nợ.
5. Các giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp
· Toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thành lập và đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã.
6. Kết quả định giá hoặc thẩm định giá tài sản (nếu có)
· Nếu có văn bản định giá, thẩm định giá tài sản còn lại thì phải nộp kèm theo.
|
|
03 - Thực trạng thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam |
Tình hình thụ lý thủ tục phá sản
Luật Phá sản tại Việt Nam được ban hành năm 2004 và sửa đổi năm 2013, tuy nhiên kể từ đó, số lượng đơn yêu cầu phá sản được thụ lý vẫn còn hạn chế. Cụ thể, giai đoạn từ 2004 đến trước khi sửa đổi năm 2013, có 336 vụ việc được thụ lý; và từ năm 2014 đến ngày 30/09/2023, có 1.510 vụ việc được thụ lý.
Tình hình giải quyết các vụ việc phá sản
Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/09/2023, trong 1.510 vụ việc do Tòa án nhân dân (TAND) tại Việt Nam giải quyết, cơ cấu cụ thể như sau:
· Quyết định mở thủ tục phá sản: 554 vụ việc.
· Trả lại đơn yêu cầu: 66 vụ việc (trong đó có 01 vụ việc do người nộp đơn rút đơn).
· Quyết định không mở thủ tục phá sản: 234 vụ việc.
· Quyết định tuyên bố phá sản: 150 vụ việc (trong đó có 44 vụ việc tiến hành theo thủ tục rút gọn).
· Quyết định đình chỉ thủ tục phá sản: 49 vụ việc.
· Xem xét lại, giải quyết kiến nghị/kháng nghị: 12 vụ việc đối với quyết định mở/không mở thủ tục phá sản; 14 vụ việc đối với quyết định tuyên bố phá sản.
· Áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh: 06 vụ việc.
Tình hình thi hành nghĩa vụ tài sản
Theo thống kê của Bộ Tư pháp Việt Nam, từ năm 2015 đến 2023, tổng số tiền và tỷ lệ thi hành xong các nghĩa vụ tài sản trong các vụ việc phá sản đang tăng lên qua các năm. Ví dụ:
· Năm 2015:
o Số vụ việc xử lý: 42 vụ việc.
o Tổng số tiền nợ: 30,5 tỷ VNĐ.
o Số vụ việc có điều kiện thi hành: 13 vụ việc (15,5 tỷ VNĐ).
o Tỷ lệ thi hành xong: 84,62% (tính trên giá trị là 56,51%).
· Năm 2023:
o Số vụ việc xử lý: 324 vụ việc.
o Tổng số tiền nợ: 219,88 tỷ VNĐ.
o Số vụ việc có điều kiện thi hành: 202 vụ việc (171,05 tỷ VNĐ).
o Tỷ lệ thi hành xong: 31,68% (tính trên giá trị là 87,90%).
Những vướng mắc trong thực tiễn
· Hành vi gian lận:
Tồn tại những trường hợp doanh nghiệp mắc nợ chuyển nhượng các tài sản chủ chốt cho bên thứ ba trước khi nộp đơn phá sản nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Điều này làm gia tăng gánh nặng cho các chủ nợ trong việc đối phó với hành vi tẩu tán, dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ.
· Người mắc nợ tự nộp đơn phá sản:
Đặc biệt trong các trường hợp bản thân người mắc nợ tự nộp đơn yêu cầu phá sản, có những trường hợp họ sử dụng các cuộc đàm phán hoặc thủ đoạn không minh bạch nhằm mục đích được miễn trừ nghĩa vụ trả nợ.
· Xu hướng chung
Thông thường, phần lớn các doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản đều đã mất khả năng thanh toán từ trước và không còn sở hữu tài sản đủ để các chủ nợ có thể thu hồi nợ một cách thỏa đáng.